This is default featured slide 1 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 2 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 3 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 4 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

This is default featured slide 5 title

Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these sentences with your own descriptions.

Thứ Sáu, 22 tháng 2, 2019

Lựa chọn phương pháp dạy Tiếng Anh cho trẻ - Ngữ âm (Phonics) hay Toàn chữ (Whole Words)?

Liệu phương pháp dạy trẻ học đọc tiếng Anh bằng Ngữ âm (Phonics) hay Toàn chữ (Whole Words) sẽ hiệu quả hơn?? Hãy cùng tham khảo những phân tích dưới đây nhé

1. Phương pháp dạy tiếng Anh cho trẻ ngữ âm (Phonics)

lua chon phuong phap day tieng anh cho tre
Phương pháp dạy tiếng Anh cho trẻ bằng ngữ âm - Phonics

Phương pháp ngữ âm (Phonics) là một trong những phương pháp truyền thống trong việc dạy trẻ học đọc và viết ngôn ngữ Anh. Giống như việc ghép vần trong tiếng Việt, phương pháp này giúp trẻ nhận biết các quy tắc cơ bản của ngữ âm và áp dụng chúng khi nhìn chữ để đọc. Có những luật ngữ âm như sau:
Nguyên âm đơn: a, u, i, e, o
Nguyên âm đôi: ai, ea, ee, oa, oi, oo, ou, ow
Phụ âm đơn: b, c, d, f, g, h, j, k, l, m, n, p, q, r, s, t, v, w, x, y, z
Phụ âm kép:
Phụ âm pha trộn:
Âm pha trộn đứng đầu: br, cr, dr, fr, gr, pr, tr, wr, bl, cl, fl, gl, pl, sl, scr, str, sm, sn, sp, sc, sk
Âm pha trộn đứng cuối: ck, ce, ct, ft, lk, ll, lt, ld, mp, nd, ng, nk, nt, st

Phụ âm ghép: sh, ch, th, wh, ph
Những âm ghép khác: i_e, o_e, u_e, a_e, ey, ay
Những quy luật phát âm khác: âm e câm, âm h câm, âm r: ar, er, ir, or, ur…

Ngữ âm (Phonics) là một loạt các quy luật phát âm mà trẻ phải học bằng cách ghi nhớ, sau đó ứng dụng vào giải mã những từ trẻ cần đọc, bao gồm cả những từ hoàn toàn mới mà trẻ chưa từng gặp bao giờ. Trẻ được dạy một luật, ví dụ: âm e câm, và được luyện đọc từ chứa âm e câm, chúng sử dụng quy luật này trong một từ mà chúng thấy, trẻ nhận ra là từ này có bao gồm quy luật phát âm đó, não trẻ tư duy liên kết lại kiến thức, ngay sau đó trẻ phát âm ra đó là âm e câm, được chứa trong từ vựng đó. Trẻ sẽ thao tác như vậy khi gặp các từ vựng khác, nhờ đó kết quả là trẻ có thể đọc được những từ mà trẻ chưa từng gặp bao giờ.

Tuy nhiên, nhược điểm của phương pháp này là trẻ cảm thấy khó khăn khi phải ghi nhớ những quy luật ngữ âm (Phonics). Để hạn chế những khó khăn này, một vài kinh nghiệm đã được rút ra trong quá trình dạy trẻ bằng phương pháp ngữ âm (Phonics):
Những quy luật ngữ âm (Phonics) nên được dạy một cách càng đơn giản càng tốt và những quy luật nào đơn giản hơn sẽ được giới thiệu tới bé trước tiên. Ví dụ, khi dạy nguyên âm, bạn sẽ làm trẻ cảm thấy bị lẫn lộn khi nói với trẻ về kiến thức “nguyên âm ngắn và nguyên âm dài”. Thay vì đó, bạn hãy chủ động dạy trẻ nguyên âm ngắn trước. Rồi khi trẻ gặp những nguyên dài, thì bạn lại tiếp tục dạy trẻ cách phát âm nguyên âm dài đó. Điều này có nghĩa, hãy dạy cho bé luật đơn giản trước, rồi từ từ hướng dẫn những quy tắc phức tạp hơn sau này.
Khi dạy trẻ phát âm thông qua phương pháp ngữ âm (Phonics) hãy lưu ý: mỗi khi từ được đọc đến đâu, cần có sự thay đổi màu trong kí tự từ, có nghĩa cần bôi đậm kí tự được phát âm, rồi thao tác này sẽ xuất hiện lần lượt với các kí tự được phát âm tiếp theo trong cùng một từ, hay còn gọi là phong cách karaoke-style. Điều này giúp trẻ dễ theo dõi quy luật hơn, từ đó nhận diện và phát âm từ chính xác.

Tóm lại, Phonics là một phương pháp tốt giúp trẻ học đọc hiệu quả. Tuy nhiên cần chú ý những nhược điểm mà nó đem lại để tìm cách khắc phục phù hợp và kịp thời đối với từng trẻ khác nhau.


2. Phương pháp dạy tiếng Anh cho trẻ đọc toàn chữ (Whole words)

phuong phap day tieng anh cho tre whole words

Phương pháp dạy tiếng Anh cho trẻ đọc toàn chữ (Whole words)


Nếu như phương pháp ngữ âm (Phonics) là phương pháp học đọc “part-whole” (từng phần riêng lẻ) thì phương pháp đọc toàn chữ (Whole words) là phương pháp dạy trẻ học đọc thông qua cả bề mặt từ. Phương pháp này cần thiết bởi trong thực tế, có một lượng từ vựng không theo quy luật ngữ âm (Phonics rules) và do đó những từ này cần được học phát âm theo phương pháp nhìn. Đặc biệt, phương pháp đọc toàn chữ (Whole words) khuyến khích trẻ đọc to cả từ đó và đọc bằng cách nhìn (hiểu) thay vì chỉ giải mã cấu tạo âm vị của từ.

Với phương pháp này, trẻ được khuyến khích ghi nhớ cả từ vựng thay vì ghi nhớ các quy luật (bộ kí tự). Khi tiếp xúc với một lượng từ đủ lớn thì bé sẽ tìm ra quy luật về cách đọc của ngôn ngữ viết. Trẻ tham gia các hoạt động học tập bằng phương pháp này thông qua việc sử dụng hình ảnh để học. Phương pháp dạy nguyên từ (Whole words) ngoài ra còn giúp trẻ phát triển ngôn ngữ viết từ sớm do trẻ được tiếp xúc với tất cả các kí tự tạo nên một từ vựng.

Tuy nhiên phương pháp này cũng còn có một số nhược điểm như:
Trẻ sẽ không có nền tảng phát âm đầy đủ như cách mà phương pháp ngữ âm (Phonics) có thể làm.
Đối với những từ trông khá giống nhau, trẻ cần đoán từ (khả năng suy đoán). Ví dụ: những từ như house hay horse trông khá giống nhau, chúng đều bắt đầu bằng ho và kết thúc bằng se, cũng như có chung hình dạng (nếu bạn kẻ một đường viền bao quanh mỗi từ đó) và có chung độ dài, nhưng rõ ràng như bạn biết thì những từ đó là khác nhau. Một đứa trẻ mà học đọc thông qua phương phápđọc toàn chữ (Whole words) sẽ có thể nhầm lẫn những từ như vậy.
Phương pháp đọc toàn chữ (Whole words) không cung cấp cho trẻ những cách xử lí tình huống cho những từ trẻ không biết nghĩa. Trong trường hợp này, trẻ phải nghe từ, nhìn vào từ đó và hỏi ai đó xem từ đó nghĩa là gì. Trẻ sẽ dựa vào sự gợi ý hình ảnh và văn cảnh trong câu mà từ được sử dụng, từ đó suy đoán nghĩa của từ, rồi ghi nhớ chúng. Muốn thành thạo trong việc học đọc, trẻ cần làm điều này hàng ngàn lần với hàng nghìn từ. Với phương pháp ngữ âm (Phonics), trái lại, trẻ chỉ cần học những âm vựng cơ bản và các âm khác trong theo quy luật ngữ âm (Phonics rules), điều này giúp trẻ có thể học đọc được cả những từ mới mà trẻ chưa từng gặp bao giờ. Những nghiên cứu chỉ ra rằng những trẻ học đọc tốt thường sử dụng phương pháp ngữ âm (Phonics) để có thể nhận diện và phát âm được những từ mới lạ.



Ngữ âm (Phonics)
Toàn chữ (Whole Words)
Ưu điểm
- Vẫn đọc được từ mà chưa cần hiểu nghĩa
- Hiểu được quy luật đọc từ trái qua phải
- Đọc được những từ không có quy luật ngữ âm
- Phát triển khả năng ngôn ngữ viết
Nhược điểm
Cần phải ghi nhớ rất nhiều luật và cách ứng dụng luật vào các trường hợp
 Không cung cấp cho trẻ những cách xử lí tình huống khi gặp từ mới



Tóm lại, để bé học đọc hiệu quả cần phải có sự kết hợp của cả hai phương pháp Phonics và Whole words, bởi những nhược điểm của phương pháp Phonics sẽ được phương pháp Whole words khắc phục và ngược lại.
>> Nguồn: Sưu tầm

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2019

Đề thi tuyển sinh lớp 10 năm nay có gì mới?

Ngày 19.2, nhằm giúp các trường có sự chuẩn bị tốt nhất cho học sinh lớp 9 bước vào kỳ thi tuyển sinh lớp 10 diễn ra vào tháng 6, Sở GD-ĐT TP.HCM đã công bố những thông tin mới nhất về cấu trúc và nội dung kiến thức của đề thi.
Học sinh lớp 9 cần bổ sung kiến thức thực tế để chuẩn bị cho kỳ thi lớp 10
ẢNH: NGỌC DƯƠNG

Về chủ trương, ông Nguyễn Văn Hiếu, Phó giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM, khẳng định Sở sẽ giữ ổn định về hình thức thi tuyển sinh vào lớp 10 với 3 môn toán, ngữ văn và ngoại ngữ.
Đặc biệt, ông Hiếu nhấn mạnh: “Cấu trúc đề thi tuyển sinh mà học sinh lớp 9 năm nay tham dự sẽ tương tự cấu trúc đề thi của năm học 2018. Trong đó, Sở tiếp tục thực hiện theo định hướng tăng cường tính thực tiễn, khuyến khích các em thể hiện khả năng tư duy, vận dụng kiến thức vào đời sống”.

Mở rộng kiến thức hình học lớp 9
Thạc sĩ Dương Bửu Lộc, chuyên viên phụ trách môn toán Sở GD-ĐT, thông tin đề thi môn toán sẽ có 8 câu hỏi bao gồm những kiến thức liên quan đến đồ thị hàm số, căn thức, phương trình và hệ phương trình, hình học không gian... Đặc biệt, ông Lộc lưu ý, nếu câu hỏi về hình học không gian của đề thi năm trước chỉ khu trú vào kiến thức của lớp 8 với hình chóp, hình lăng trụ, hình chữ nhật... thì năm nay đề thi có thể sẽ mở rộng với kiến thức lớp 9 thông qua các nội dung về khối cầu, khối nón, khối trụ...

Trong những kỳ tuyển sinh gần đây, hầu hết học sinh lớp 9 quan tâm đến các câu hỏi thực tiễn sẽ xuất hiện trong đề thi. Vì vậy, thạc sĩ Lộc cho hay, trong đề thi sắp tới có thể xuất hiện từ 2 - 3 câu hỏi dạng này. Thang điểm dành khoảng 3 điểm cho các bài toán đề cập đến kiến thức toán hoặc có thể là sinh học, hóa học, vật lý… nhưng không gây áp lực khiến học sinh phải học nhiều môn và không bắt buộc phải nhớ nhiều công thức, kiến thức chi tiết. Có thể trong đề sẽ nhắc lại công thức nhưng thí sinh cần hiểu kiến thức môn đó và vận dụng toán vào giải quyết câu hỏi.

Với những yêu cầu của đề thi nêu trên, ông Lộc lưu ý, học sinh có thể vượt qua các câu hỏi khi học một cách có tích lũy, tức là học hiểu chứ không phải học dàn trải, học thuộc lòng công thức toán học.

Hai lựa chọn câu hỏi nghị luận văn học
Với môn ngữ văn, thạc sĩ Trần Tiến Thành, chuyên viên Sở GD-ĐT, cho hay cấu trúc đề tuyển sinh lớp 10 không thay đổi so với năm học 2018 - 2019, tức bao gồm 3 phần: đọc hiểu (3 điểm), nghị luận xã hội (3 điểm) và nghị luận văn học (4 điểm), với thời gian làm bài 120 phút. Ở phần đọc hiểu, các văn bản được chọn có thể là văn bản nhật dụng, nghị luận xã hội, thường thức đời sống, khoa học... Các câu hỏi được tổ chức theo các mức độ tư duy từ dễ đến khó, nhận biết, thông hiểu đến vận dụng. Có thể là các câu hỏi yêu cầu phát hiện, nhận diện, giải mã từ ngữ, chi tiết, hình ảnh, nêu nội dung văn bản, yêu cầu phân tích, đánh giá, liên hệ, so sánh, sáng tạo nội dung mới... Trong các câu hỏi đọc hiểu có 1 câu về tiếng Việt.

Ở phần nghị luận xã hội, thí sinh sẽ phải trình bày bài viết có độ dài khoảng 1 trang giấy trên cơ sở sử dụng phối hợp các thao tác lập luận vào bài làm. Nhất là các thao tác giải thích, chứng minh, bình luận. Khi bàn luận, học sinh cũng cần rút ra bài học về nhận thức và hành động cho chính bản thân mình.

Phần yêu cầu nghị luận văn học, thí sinh có 2 lựa chọn. Trong đó, đề 1 sẽ là cách hỏi quen thuộc như phân tích, cảm nhận tác phẩm thơ, truyện trong chương trình, từ đó đặt ra yêu cầu sáng tạo, mở rộng thể hiện qua việc liên hệ đến tác phẩm khác, liên hệ thực tế cuộc sống, làm sáng rõ một ý kiến… Đề 2 có cách hỏi mới hơn, gợi mở hơn và thí sinh có thể căn cứ vào việc nắm vững kiến thức và kỹ năng để chọn cho mình đề bài phù hợp.

Không đặt nặng yêu cầu ngữ pháp về ngoại ngữ
Ở môn thi tiếng Anh, ông Trần Đình Nguyễn Lữ, chuyên viên tiếng Anh của Sở, thông tin cấu trúc đề thi 2019 sẽ không thay đổi so với đề thi 2018 nhằm đảm bảo quá trình đổi mới kiểm tra, đánh giá. Đề thi mang tính học thuật, khoa học, phù hợp xu thế nhưng không gây xáo trộn, căng thẳng không đáng có trong việc dạy và học của giáo viên và học sinh.
>> Nguồn: Báo Thanh niên

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2019

Dự thảo quy chế thi THPT Quốc gia, xét tốt nghiệp THPT: Băn khoăn về cách tính điểm xét tốt nghiệp

Kỳ thi THPT quốc gia năm 2019 về cơ bản giữ ổn định đối với các thí sinh như năm 2018, nội dung thi nằm trong chương trình THPT, chủ yếu là chương trình lớp 12. Những điều chỉnh phần lớn liên quan đến tổ chức thi, chấm thi, xét công nhận tốt nghiệp đã được thể hiện trong dự thảo Quy chế thi THPT quốc gia và xét công nhận tốt nghiệp THPT đang được Bộ GD&ĐT xin ý kiến rộng rãi.

Quy chế thi THPT quốc gia được điều chỉnh hàng năm theo yêu cầu thực tiễn trong đổi mới

Có cả ưu điểm và hạn chế

Là người trực tiếp giảng dạy môn Ngữ văn THPT và tham gia công tác quản lý của một cơ sở giáo dục, ThS Trần Xuân Trà - Phó Hiệu trưởng Trường THPT Nguyễn Trường Thúy (Nam Định) - đã chỉ ra những ưu điểm nổi bật và cả một số băn khoăn về dự thảo Quy chế.

Về ưu điểm, ThS Trần Xuân Trà cho rằng đề thi THPT quốc gia bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học, chủ yếu tập trung vào chương trình lớp 12, nhằm xét tốt nghiệp là chính và là căn cứ để các trường ĐH, CĐ xây dựng phương án tuyển sinh. Mục tiêu này vừa bớt “gánh nặng” tâm lý cho học sinh, nhất là các em ở vùng sâu, vùng xa và học sinh lực học trung bình, hoặc trung bình yếu, chỉ có nhu cầu tốt nghiệp THPT; vừa tăng tính tự chủ trong công tác tuyển sinh của các trường ĐH, CĐ (không nhất thiết phải sử dụng kết quả thi THPT quốc gia; cũng không nhất thiết phải tổ chức thi tuyển sinh riêng vì đề thi đã có độ phân hóa).

Bên cạnh đó, việc tăng cường trách nhiệm của cán bộ các trường ĐH, học viện và công tác bảo mật, bảo đảm an ninh, cũng như tính khách quan, công bằng trong các khâu của quá trình ra đề, sao in, coi thi, chấm thi, nhất là quy trình chấm bài thi trắc nghiệm giúp khắc phục những hiện tượng gian lận trong thi cử, xử lý kết quả thi đã xảy ra ở một số địa phương, tạo niềm tin trong phụ huynh và học sinh.

Dự thảo Quy chế cũng tạo tâm lý bình đẳng cho các đối tượng học sinh, khi thí sinh tự do, GDTX, THPT được sắp xếp ngồi cùng một phòng thi, tại một điểm thi, giúp các em phấn khởi, tự tin hơn trong quá trình tham dự kỳ thi.

Bên cạnh những ưu điểm nổi bật trên, ThS Trần Xuân Trà cũng có một số băn khoăn. Theo đó, việc tăng cường trách nhiệm của cán bộ các trường ĐH tham gia các khâu của quá trình coi, chấm thi là cần thiết, nhưng không nên tuyệt đối hóa vai trò của lực lượng này trong khâu chấm thi trắc nghiệm. Bởi khi đã có hệ thống CNTT giám sát chặt chẽ việc này thì điều cốt yếu, có vai trò quyết định về chất lượng chấm thi là vấn đề giám sát và năng lực, phẩm chất của các kỹ thuật viên.


“Nếu sử dụng lực lượng lớn cán bộ các trường ĐH làm công tác này, liệu có đáp ứng đầy đủ các cán bộ đúng chuyên môn, nghiệp vụ cho các điểm thi? Hơn nữa việc đi lại, sinh hoạt sẽ có những bất cập… Nên chăng, nếu đã có hành lang pháp lý an toàn, Bộ GD&ĐT chỉ cần điều động một lực lượng cán bộ giám sát vừa đủ và huy động các kỹ thuật viên ở các Sở GD&ĐT theo hình thức chấm chéo tỉnh, hoặc tổ chức chấm trắc nghiệm ở một số điểm trong toàn quốc để thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát và giảm bớt nguồn kinh phí chấm thi” - ThS Trần Xuân Trà nêu quan điểm.

Băn khoăn thứ hai ThS Trần Xuân Trà đề cập đến là việc tăng tỷ lệ điểm thi THPT quốc gia (70%) so với trước (50%) để xét tốt nghiệp; tuy có đề cao vị trí, vai trò của điểm thi THPT quốc gia, nhưng chưa khuyến khích việc đổi mới kiểm tra, đánh giá theo hướng kết hợp giữa kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kỳ với quá trình học tập của học sinh. Nên chăng, Bộ vẫn giữ nguyên tỷ lệ điểm thi THPT quốc gia như trước, bởi sự tăng trưởng về tỷ lệ này cũng không thay đổi mấy so với kết quả xét tốt nghiệp và dễ gây tâm lý e ngại trước những thay đổi, nhiều khi không cần thiết của Quy chế thi.

Cần có lộ trình thay đổi


Quan tâm đến thay đổi trong cách tính điểm xét tốt nghiệp, cô Nguyễn Thị Mỹ Dung – Tổ trưởng chuyên môn Trường THPT Nguyễn Văn Hai (Trà Vinh) - cho rằng, cách tính điểm bài thi THPT quốc gia 70%, trung bình cả năm 30% có ưu điểm là nâng cao ý thức học tập của học sinh khối 12. Học sinh không còn tâm lý ỷ lại nhiều vào điểm trung bình cả năm lớp 12. Đồng thời, đánh giá tương đối chính xác chất lượng học tập của học sinh.


Tuy nhiên, cô Nguyễn Thị Mỹ Dung cũng đưa ra hạn chế của phương án này với phân tích: Một số học sinh trung bình cả năm lớp 12 đạt 7,0 - 8,0 nhưng bài thi chỉ có 2 hoặc 3 điểm, như vậy chứng tỏ khả năng xử lý đề kém. Những trường hợp này có thể cả năm học không vắng mặt, thường xuyên phát biểu, được GV thưởng điểm hoặc học theo nhóm được bạn hỗ trợ, nhưng khi thi không ai giúp đỡ nên không giải quyết vấn đề được, hoặc nhiều lý do khác. Vì vậy, giáo viên phải hướng dẫn cho học sinh ý thức tự học để có kiến thức, không trông chờ hỗ trợ hoặc học tủ. Các em phải tích lũy kiến thức từng ngày chứ không học dồn chờ nước tới chân mới chịu học. Cùng với đó, thường xuyên luyện tập các dạng đề để hoàn thành kỳ thi tốt nhất.

Ngoài những phân tích cụ thể trên về phương án tính điểm xét tốt nghiệp, nhiều giáo viên THPT ủng hộ phương thức tính điểm mới đang được đề xuất (70/30) với lý do sẽ phân loại học sinh tốt hơn, phù hợp với thực tiễn, đảm bảo được sự công bằng, khách quan trong xét tốt nghiệp cũng như công nhận tốt nghiệp cho học sinh. Tuy nhiên, cần có lộ trình dài hơn (chẳng hạn năm 2019 tỷ lệ 60/40, năm sau 2020 70/30,…). Có ý kiến thì cho rằng, với những đơn vị trường đóng trên địa bàn còn nhiều khó khăn thì phương thức tính điểm mới chưa thực sự phù hợp. Việc học sinh tham gia học tập đều đặn trong năm học cũng là cả một sự cố gắng, vậy nên kết quả học tập thường xuyên của các em trong năm học cần được ghi nhận...

>> Theo: Thảo Đan

Thứ Ba, 12 tháng 2, 2019

Nhiều điểm mới trong tuyển sinh ngành công an năm 2019

Trong kỳ thi tuyển sinh đại học 2019, dự kiến sẽ điều chỉnh về chế độ ưu tiên khu vực, quy định điểm sàn riêng với nhóm ngành y có cấp chứng chỉ hành nghề, nhóm ngành công an...
Đó là những điểm mới đáng lưu ý trong Dự thảo Sửa đổi, bổ sung một số Điều của Quy chế tuyển sinh đại học hệ chính quy; tuyển sinh cao đẳng nhóm ngành đào tạo giáo viên hệ chính quy...

Nhiều điểm mới trong tuyển sinh ngành công an năm 2019


Ngành y có điểm sàn riêng


Bộ GD&ĐT, cho biết một trong những điểm sửa đổi quan trọng sẽ được bổ sung trong quy chế tuyển sinh 2019 là đối với nhóm ngành thuộc lĩnh vực khoa học sức khỏe có cấp chứng chỉ hành nghề, Bộ GD&ĐT sẽ xác định điểm sàn riêng. Năm 2018, Bộ GD&ĐT chính thức bỏ điểm sàn đối với tuyển sinh ĐH, chỉ duy nhất ngành Sư phạm Bộ quy định điểm sàn để đảm bảo chất lượng. 

Như vậy, năm 2019, ngành sư phạm và nhóm ngành sức khỏe có cấp chứng chỉ hành nghề sẽ phải thực hiện theo điểm sàn riêng do Bộ GD&ĐT quy định. Trên cơ sở điểm sàn riêng này, các trường đào tạo nhóm ngành sức khỏe sẽ xây dựng phương án xét tuyển phù hợp. Ngoài ra, với phương thức xét tuyển theo học bạ, Bộ GD&ĐT yêu cầu các trường xét tuyển nhóm ngành đặc thù này với điều kiện học sinh tốt nghiệp THPT có học lực lớp 12 xếp loại giỏi giống như sư phạm.

Một thay đổi khác là các trường sẽ tiếp nhận và lưu bản chính Giấy chứng nhận kết quả thi THPT quốc gia. Đặc biệt, thí sinh đã xác nhận nhập học thì không được tham gia xét tuyển các trường khác hay các đợt tiếp theo.  

Bộ GD&ĐT cũng yêu cầu các trường có sử dụng kết quả thi THPT quốc gia để xét tuyển phải tuân thủ và thực hiện tất cả các bước trong quy trình xét tuyển. Các trường có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin về điều kiện đảm bảo chất lượng, tỉ lệ sinh viên có việc làm trong thời gian 12 tháng sau tốt nghiệp.

Với các trường tổ chức thi đánh giá năng lực chuyên biệt hoặc có môn thi năng khiếu kết hợp với sử dụng kết quả kỳ thi THPT quốc gia xác định và công bố công khai trên trang thông tin điện tử của trường và các phương tiện thông tin đại chúng khác về thời gian, hồ sơ đăng ký sơ tuyển; thủ tục, điều kiện đạt yêu cầu sơ tuyển; phương thức tổ chức thi, đề thi minh họa đối với các trường tổ chức thi đánh giá năng lực chuyên biệt và phương thức xét tuyển

Điều chỉnh chính sách ưu tiên cho quân nhân, học sinh thuộc xã khó khăn


Dự thảo cũng quy định cụ thể hơn chính sách ưu tiên với đối tượng quân nhân. Quy chế tuyển sinh đại học năm 2018 quy định "Quân nhân; sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ trong Công an nhân dân được cử đi dự thi, nếu đóng quân từ 18 tháng trở lên tại khu vực nào thì hưởng ưu tiên theo khu vực đó hoặc theo hộ khẩu thường trú trước khi nhập ngũ, tùy theo khu vực nào có mức ưu tiên cao hơn; nếu dưới 18 tháng thì hưởng ưu tiên khu vực theo hộ khẩu thường trú trước khi nhập ngũ."

Dự thảo mới bổ sung thêm: "Nếu đóng quân từ 18 tháng trở lên tại các khu vực có mức ưu tiên khác nhau thì hưởng ưu tiên theo khu vực có thời gian đóng quân dài hơn."

Ngoài ra, Dự thảo cũng sửa đổi quy định về chính sách ưu tiên theo khu vực. Theo đó, học sinh thuộc các thôn, xã khó khăn sẽ không hưởng ưu tiên khu vực theo hộ khẩu thường trú như các năm trước đây. Việc xác định khu vực hưởng ưu tiên sẽ phụ thuộc vào địa điểm học của thí sinh.

Thí sinh học liên tục và tốt nghiệp trung học tại khu vực nào thì hưởng ưu tiên theo khu vực đó. Nếu trong 3 năm học trung học phổ thông (hoặc trong thời gian học trung cấp) có chuyển trường thì thời gian học ở khu vực nào lâu hơn được hưởng ưu tiên theo khu vực đó. Nếu mỗi năm học một trường thuộc các khu vực có mức ưu tiên khác nhau hoặc nửa thời gian học ở trường này, nửa thời gian học ở trường kia thì tốt nghiệp ở khu vực nào, hưởng ưu tiên theo khu vực đó. Quy định này áp dụng cho tất cả thí sinh, kể cả thí sinh đã tốt nghiệp từ trước năm tuyển sinh.

Nhiều điểm mới trong tuyển sinh ngành công an


Mới đây, Cục Đào tạo (Bộ Công an) có hướng dẫn một số nội dung triển khai công tác tuyển sinh hệ chính quy năm 2019. Theo đó, một số nội dung điều chỉnh gồm tiêu chuẩn sức khỏe, tiêu chuẩn học lực, tiêu chuẩn chính trị...

Cũng theo Cục Đào tạo, một số nội dung điều chỉnh gồm, tiêu chuẩn sức khỏe: Thực hiện theo Công văn số 3026/H41-H50 ngày 20/10/2017 của Tổng cục Hậu cần Kỹ thuật CAND, riêng chỉ số BMI của thí sinh phải đạt từ 17.9 (đối với nam) 18.02 (đối với nữ) đến dưới 30 (đối với cả nam và nữ); thí sinh bị cận thị được đăng ký dự tuyển vào các trường CAND phải cam kết chữa trị khỏi khi trúng tuyển. Thí sinh có kết quả xét nghiệm dương tính với vi-rút viêm gan B (phân loại sức khỏe đạt loại 3) không thuộc đối tượng xét tuyển.

Tiêu chuẩn học lực: các năm học THPT phải đạt học lực loại trung bình trở lên, riêng các môn thuộc tổ hợp đăng ký xét tuyển vào các trường CAND phải đạt từ 7.0 điểm trở lên.

Tiêu chuẩn chính trị: Thực hiện theo Thông tư số 44 năm 2018 của Bộ Công an.

Đặc biệt, đối với chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia CAND không đủ điều kiện về học lực: Công an các đơn vị, địa phương và các trường CAND tiếp nhận hồ sơ nhưng không đưa vào danh sách xét tuyển đại học. Đối tượng này được lấy kết quả thi THPT Quốc gia để xét tuyển trung cấp, xét chuyển sang chế độ chuyên nghiệp (nếu có nguyện vọng).

Theo Cục đào tạo, phương thức tuyển sinh: Sử dụng kết quả thi THPT Quốc gia năm 2019 của Bộ GD-ĐT (chiếm tỷ lệ 75% điểm xét tuyển) kết hợp với kết quả học bạ trung học phổ thông (chiếm tỷ lệ 25% điểm xét tuyển).

ĐỖ HỢP ( Báo tiền phong)